Skip to content
You are here: Trang Chủ arrow Tin Tức arrow Đầu tư tín chỉ các-bon trong lâm nghiệp: Thị trường còn bỏ ngỏ
Đầu tư tín chỉ các-bon trong lâm nghiệp: Thị trường còn bỏ ngỏ In E-mail
10/02/2012
 “Tín chỉ các-bon”, “tài chính các-bon” là khái niệm còn rất mới tại Việt Nam nhưng lại là chủ đề đang được thảo luận sôi nổi và cũng đang gây ra nhiều tranh cãi trên thế giới. Khi các công cụ kinh tế tiếp tục được áp dụng vào lĩnh vực môi trường nhằm giải quyết sự ấm lên toàn cầu, chúng ta cũng cần tìm hiểu cơ chế hoạt động của những công cụ này để chủ động tìm được cho mình một chỗ đứng thích hợp khi dòng chảy của chúng đã và đang tìm đến nước ta. Từ thế giới
Kể từ khi các nhà hoạt động môi trường, thay vì kịch liệt phê phán giới kinh doanh là thủ phạm chính gây ô nhiễm môi trường, chuyển sang bắt tay với các nhà kinh tế để cùng tìm ra lời giải cho bài toán phát triển bền vững thì phong trào bảo vệ môi trường đã theo một hướng mới. Người ta đã bắt đầu sử dụng những công cụ kinh tế để nhằm điều tiết hiệu quả hơn những tác động của con người, cả tích cực lẫn tiêu cực, đối với trái đất.

Sự ra đời của Nghị định thư Kyoto năm 1997 với cam kết cắt giảm 5% lượng khí nhà kính (so với mức của năm 1990) trong vòng 5 năm, từ 2008 đến 2012, của 37 nước công nghiệp phát triển và Cộng đồng châu Âu (EC) đã tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của một loại thị trường đặc biệt - thị trường buôn bán sự phát thải. Khí CO2 là khí do các ngành công nghiệp thải ra và chiếm chủ yếu trong 4 loại khí gây hiệu ứng nhà kính, bởi vậy từ lâu nay người ta vẫn quen gọi đây là “thị trường các-bon” (carbon market). 

Trên thị trường các-bon, việc mua bán các-bon hay chính xác hơn là việc mua bán sự phát thải khí CO2, được thực hiện thông qua tín dụng các-bon (carbon credit). Mỗi một công ty gây ô nhiễm sẽ có một hạn mức thải CO2 nhất định mà nếu muốn vượt quá hạn mức này cần phải bỏ tiền ra mua thêm hạn mức, gọi là tín dụng các-bon. Tín dụng các-bon có thể được thông qua đầu tư một số dự án góp phần làm giảm phát thải CO2 hoặc được mua lại từ các công ty khác. 

Với việc thay thuế các-bon trực tiếp bằng tín dụng các-bon, CO2 trở thành một loại hàng hóa được đem ra mua bán trên thị trường và do đó, giá cả của nó sẽ do thị trường tự điều tiết. Điều này giúp tránh được các ý kiến phê phán việc mức thuế các-bon do chính phủ đưa ra không hợp lý và việc sử dụng tiền thuế thu được có thể không đúng với mục đích hoặc thiếu hiệu quả.

Hoạt động của thị trường các-bon được hỗ trợ bởi 3 cơ chế chính được nêu ra trong Nghị định thư Kyoto, đó là cơ chế buôn bán sự phát thải, cơ chế phát triển sạch (CDM) và cơ chế đồng thực hiện (JI). Trong Kế hoạch Hành động Bali được thông qua tại Cuộc thảo luận lần thứ 13 giữa các bên đối với Công ước khung về Biến đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc (COP13) vào tháng 12/2007 tại Bali (Indonesia), một cơ chế mới được bổ sung nhằm nhấn mạnh vai trò của rừng đối với biến đổi khí hậu. Đó là cơ chế giảm phát thải do phá rừng và thoái hóa rừng, viết tắt là REDD. Thông qua các cơ chế này, các nước phát triển với hạn ngạch phát thải khí rất thấp sẽ phải tìm cách đầu tư những dự án góp phần làm giảm phát thải CO2 và sẽ ưu tiên thực hiện tại các nước đang phát triển bởi chi phí thấp. 

Về lý thuyết, các nước đang phát triển nhờ các dự án các-bon mà có được sự đầu tư cho bảo vệ môi trường, tiếp nhận kỹ thuật tiên tiến (qua các dự án CDM) và đồng thời cũng có thêm một khoản thu nhờ bán các chứng chỉ các-bon cho các nước phát triển. Các nước phát triển với tư cách là người mua trên thị trường các-bon cũng tiết kiệm được chi phí để giảm thải các-bon bởi các dự án thực hiện ở những nước đang phát triển sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với một dự án tương tự triển khai ở các nước phát triển. 

Tuy nhiên, trên thực tế, các dự án các-bon nhận được không ít những chỉ trích từ giới quan sát và bản thân những người trong cuộc. Trong khi một số công ty cho rằng quá trình phê duyệt dự án hiện còn mất thời gian, thủ tục rườm rà thì có một câu hỏi lớn được đặt ra về việc liệu có một sự bắt tay ngầm giữa giới chính trị và các tập đoàn kinh tế để phục vụ lợi ích của các nhà tư bản mà quên đi mục tiêu chính là vấn đề môi trường, chưa kể đến những hy vọng đây đồng thời là một phương tiện giúp xóa đói giảm nghèo. Đã có lời châm biếm rằng các dự án các-bon là các dự án thân thiện với doanh nghiệp chứ không phải thân thiện với môi trường!.

Hơn nữa, chất lượng dự án này cũng đang đặt ra một dấu hỏi lớn. Tại Ấn Độ, một trong những quốc gia nhận được nhiều dự án CDM nhất thì tình trạng ô nhiễm không khí, hủy hoại đất nông nghiệp và sức khỏe của công đồng do các dự án CDM được ghi lại ở nhiều nơi như: Gujrat, Bengal, Jharkhand…(Theo Development Today). Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng như giới quan sát còn còn băn khoăn rằng bản thân Nghị định thư Kyoto với phương pháp tiếp cận dựa vào thị trường để giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu là thay đổi khí hậu có phải là một lối đi đúng đắn? Theo Jim Watson, một thành viên của Nhóm nghiên cứu năng lượng thuộc trường Đại học Sussex (Anh), thị trường các-bon là một vũ khí quá thô sơ trong cái đang được gọi là cuộc chiến đấu để cứu nhân loại. 

Tới Việt Nam
Bất chấp mọi lời chỉ trích, thị trường các-bon vẫn đang lớn lên từng ngày. Theo báo cáo Thực tế và các Xu hướng phát triển của Thị trường các-bon năm 2008 của Ngân hàng Thế giới, giá trị của thị trường các-bon của năm 2007 tăng gấp đôi so với của năm 2006, tức là từ 31 tỉ lên đến 64 tỉ USD Mỹ. Trong đó, 50 tỉ USD là giá trị của các thị trường mua bán hạn ngạch trực tiếp. Phần còn lại, 14 tỉ, thuộc về các thị trường giao dịch thông qua dự án.Trong khi EU là thị trường các-bon nội địa sôi động nhất thì khối này cũng là người mua chủ yếu trong các thị trường các-bon thông qua dự án. Về phía “người bán”, Trung Quốc là nước bán được nhiều chứng chỉ các-bon (CERs) nhất rồi đến các nước như Ấn Độ, Braxin. Nga và Ukraina là hai nước giao dịch bằng cơ chế đồng thực hiện (JI) nhiều nhất. 

Tại Việt Nam, các dự án CDM trên thực tế đã được triển khai. Bà Lê Thị Bảo Ngọc – Giám đốc Trung tâm các-bon của Công ty cổ phần Năng lượng và Môi trường (RCEE), một đơn vị đi tiên phong trong việc nghiên cứu và xúc tiến các dự án CDM tại Việt Nam – cho biết, trước năm 2008, RCEE đã xây dựng được 10 dự án CDM và trong năm 2008 tiếp tục có khoảng 20 dự án nữa. Dự tính một năm Việt Nam có thể thu về 24 triệu USD từ những dự án này. Con số này dĩ nhiên chưa thể so được với con số hàng tỉ USD của những nước như Trung Quốc, Ấn Độ.
Nhận thấy tiềm năng lớn của rừng, trong đó rừng nhiệt đới lại có thể lưu giữ khí các-bon nhiều hơn 50% so với các kiểu rừng khác, các nhà đầu tư nước ngoài đã nhanh chóng nhảy vào thị trường các-bon rừng tại Việt Nam.
Một trong số đó có dự án của Công ty tài chính Voluntary của Úc hợp tác với Công ty Vietnam Carbon Echange đầu tư vào dự án các-bon rừng tại Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) triển khai trong tháng 8 vừa qua. Theo tính toán, mỗi năm dự án này sẽ hấp thụ khoảng 40.000 - 50.000 tấn các-bon. Khi sở hữu CERs, nhà đầu tư có thể bán lại cho các công ty của Úc hoặc bán trên thị trường quốc tế. Đại diện Công ty Vietnam Carbon Echange cho hay: “Sau dự án ở Tam Đảo, chúng tôi sẽ tiếp tục kéo các nhà đầu tư nước ngoài vào dự án các-bon rừng tại Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế), Xuân Sơn (Phú Thọ) và Ba Bể (Bắc Kạn). Chúng tôi hy vọng, 5 năm nữa sẽ bán được chứng chỉ carbon rừng”.
Gần đây nhất, Viện Điều tra quy hoạch rừng (Bộ NN-PTNT) cũng đã khởi động dự án Tính toán trữ lượng các-bon và đánh giá sự biến đổi của rừng. Ông Phú Hùng, Phó viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng, cho hay: “Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang rất muốn mua CERs của Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu tính toán trữ lượng carbon ở Việt Nam triển khai còn rất ít. Do đó, rất khó để trả lời được với đối tác là chúng ta sẽ bán được bao nhiêu”. Theo ông Hùng, để đánh giá chính xác, Viện đang xây dựng đề án tính toán trữ lượng các-bon từ rừng Việt Nam và tìm các nơi có tiềm năng xây dựng dự án CDM và REDD. Kinh phí dự kiến khoảng 1.600 tỉ đồng. Nếu việc tính toán trữ lượng các-bon được đẩy nhanh sẽ giúp đẩy nhanh quá trình bán trữ lượng các-bon, giúp tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Vấn đề đặt ra là một khi các dự án các-bon được thực hiện hàng loạt ở Việt Nam, liệu chúng ta có vấp phải những mặt trái của thị trường các-bon mà các nước khác đã phải trải qua? Chính phủ khi đang dành nhiều ưu tiên cho phát triển kinh tế liệu có “nhẹ tay” với những dự án không đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường? 

Trên thực tế, dòng tài chính các-bon chảy vào nước ta thực ra chưa nhiều, và đó là một cơ hội để chúng ta dần tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi từ các nước đi trước. Nếu làm đúng ngay từ đầu, chúng ta sẽ có cơ hội để có được những lợi ích mà phương pháp tiếp cận này hướng tới. Những bất cập về quy trình xét duyệt sẽ khắc phục được nếu ngay từ bây giờ chúng ta bắt tay vào nghiêm túc xây dựng một hệ thống chặt chẽ và minh bạch. Ngoài CDM, cơ chế giảm phát thải do phá rừng và thoái hóa rừng (REDD) đã mở ra một lối đi khác. Các nhà quản lý, các nhà bảo tồn và doanh nghiệp có tận dụng nguồn tài chính các-bon và cơ chế REDD để đầu tư cho chiến lược phát triển bền vững cũng đang là một câu hỏi còn đang bỏ ngỏ. 

Thị trường các-bon cũng giống như các thị trường khác, một khi đã được hình thành thì sẽ vận hành liên tục. Chúng ta không có cách nào khác là phải tìm cách nắm bắt và điều khiển nó. Câu hỏi đặt ra đối với Việt Nam về sân chơi (thị trường) các-bon, giống như đã từng đặt ra đối với sân chơi toàn cầu hóa, không phải là chúng ta có tham gia hay không mà là chúng ta sẽ tham gia như thế nào. Lý thuyết kinh tế đã chỉ ra đầy đủ các khuyết tật của thị trường, vấn đề là chúng ta sẽ làm gì để hạn chế được các “khuyết tật” của thị trường các-bon.
 
< Trước   Tiếp >

Nhóm Sản Phẩm

Tìm Kiếm Sản Phẩm



Tìm kiếm nâng cao
Khu vực Tải xuống
Xem giỏ
Giỏ của bạn chưa có hàng.